LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VQG HOÀNG LIÊN

Khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập theo Quyết định 194/CT ngày 09/8/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), với diện tích ban đầu là 5.000,0ha, Vườn Quốc gia Hoàng Liên là vườn quốc gia của Việt Nam, được thành lập năm 2002, nằm trên dãy núi Hoàng Liên Sơn, ở độ cao từ 1.000 đến 3.000 m so với mực nước biển, thuộc địa giới hành chính các huyện Than Uyên, Phong Thổ (tỉnh Lai Châu) và thị xã Sa Pa (tỉnh Lào Cai). Trước khi được công nhận là vườn quốc gia, khu vực này là Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Sa Pa, được thành lập năm 1996. Vườn Quốc gia Hoàng Liên được thành lập theo Quyết định số 90/2002/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Sa Pa thành Vườn Quốc gia Hoàng Liên.

Giai đoạn 1994-1997

Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên được thành lập với 14 cán bộ, bộ máy còn đơn giản, chưa có lực lượng kiểm lâm chuyên trách nên công tác quản lý phải phối hợp với Kiểm lâm địa phương. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh, người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng và cam kết bảo vệ rừng tại cộng đồng. Dự án 327 triển khai trồng mới 776,9 ha rừng và khoanh nuôi tái sinh 150 ha, góp phần tăng diện tích và độ che phủ rừng. Cây Thảo quả phát triển mạnh, mang lại thu nhập cho người dân nhưng ảnh hưởng đến tái sinh và sinh cảnh rừng. Nguy cơ cháy rừng cao do thời tiết khô nóng, trong khi lực lượng bảo vệ còn hạn chế.

Hoạt động nghiên cứu khoa học bước đầu được triển khai, góp phần làm rõ giá trị đa dạng sinh học của khu vực. Đến năm 1997, diện tích và tỷ lệ che phủ rừng tăng, bước đầu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; tuy nhiên chất lượng rừng còn thấp, thiên tai như lũ ống, lũ quét, sạt lở đất vẫn xảy ra do suy giảm rừng. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu phục hồi hệ sinh thái, hướng tới phát triển bền vững, với mục tiêu trồng mới 5 triệu ha rừng đến năm 2010 (3 triệu ha rừng phòng hộ, đặc dụng và 2 triệu ha rừng sản xuất).

 

Giai đoạn Vườn quốc gia Hoàng Liên thành lập

Trên cơ sở giá trị nổi bật về đa dạng sinh học và tiềm năng du lịch, tỉnh Lào Cai đã đề xuất nâng hạng Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên. Ngày 12/7/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 90/2002/QĐ-TTg, chính thức thành lập Vườn quốc gia Hoàng Liên.

Ngày 13/9/2002, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 391/2002/QĐ-UB quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy. Tiếp đó, ngày 27/9/2002, ban hành Quyết định số 3274/2002/QĐ-UB thành lập Ban Quản lý Vườn quốc gia Hoàng Liên. Như vậy, tổng số công chức, viên chức Vườn quốc gia Hoàng Liên gồm 25 người, ông Nguyễn Tiến Khoát được bổ nhiệm chức vụ Giám đốc, ông Nguyễn Quốc Trị và ông Nguyễn Văn Công được bổ nhiệm chức vụ Phó Giám đốc.

Giai đoạn trong thời kỳ hội nhập và phát triển 2010-2024

1. Công tác tổ chức

Bộ máy Vườn quốc gia Hoàng Liên cơ bản ổn định, được kiện toàn theo Quyết định 21/2014/QĐ-UBND (30/6/2014) với các đơn vị: Ban Giám đốc, 03 phòng chức năng, Hạt Kiểm lâm và 02 trung tâm. Năm 2022, Hạt Kiểm lâm được củng cố với các bộ phận chuyên môn và 07 trạm địa bàn. Năm 2024, hợp nhất các trung tâm thành Trung tâm Du lịch và Bảo tồn sinh vật Hoàng Liên.

Hiện nay, bộ máy gồm 06 đơn vị; tổng biên chế 107 người (47 kiểm lâm, 58 viên chức, 02 hợp đồng), chủ yếu trình độ đại học trở lên. Công tác cán bộ được điều động, bổ nhiệm phù hợp qua các giai đoạn; hiện Giám đốc là ông Nguyễn Hữu Hạnh (từ 2018, tái bổ nhiệm 2023). Công tác xây dựng Đảng được củng cố từ năm 2010, duy trì ổn định qua các nhiệm kỳ; hiện Đảng bộ có 09 ủy viên Ban Chấp hành, 03 ủy viên Ban Thường vụ.

2. Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Tuyên truyền pháp luật lâm nghiệp được đẩy mạnh (80 cuộc, >7.000 lượt người, >3.000 hộ ký cam kết). Quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR tăng cường: giao khoán >8.000 ha/năm, 13 vùng trọng điểm cháy, trực 24/24h; không xảy ra cháy lớn. Tuần tra thường xuyên, xử lý 112 vụ vi phạm; phát triển rừng hiệu quả, rừng được bảo vệ tốt, độ che phủ đạt 89,96%.

3. Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

Nghiên cứu khoa học tập trung bảo tồn, phát triển nguồn gen dược liệu quý và ứng dụng thực tiễn, tạo sinh kế cho người dân. Bảo tàng đa dạng sinh học được nâng cao, phục vụ nghiên cứu, giáo dục và tham quan. Hợp tác quốc tế mở rộng, triển khai nhiều dự án hiệu quả. Góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

4. Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường

Du lịch sinh thái được đẩy mạnh với quảng bá đa dạng, mở rộng tuyến điểm và đầu tư hạ tầng. Năm 2017 phát triển sản phẩm mới (Canyoning tại suối Vàng – thác Tình Yêu). Giai đoạn 2010–2024, doanh thu gần 53 tỷ đồng; khách phục hồi từ 2022 sau COVID-19.

Giáo dục môi trường duy trì thường xuyên (>4.000 lượt/năm); tập huấn, cấp >200 thẻ/năm cho hướng dẫn viên, porter, góp phần tạo sinh kế. Quản lý rác thải cải thiện, hình thành thói quen du khách tự mang rác ra khỏi rừng.

5. Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật

Tháng 7/2014, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật Hoàng Liên được thành lập, nhanh chóng mở rộng phạm vi tiếp nhận ra nhiều tỉnh; số vụ tăng, người dân tự nguyện bàn giao ngày càng nhiều.

Từ 2014 đến nay: tiếp nhận 249 vụ/659 cá thể, cứu hộ thành công >90%; hiện chăm sóc 112 cá thể/31 loài (chủ yếu loài quý). Nhân nuôi bước đầu hiệu quả (15 khỉ con). Tổ chức 19 đợt tái thả với 367 cá thể/34 loài; tuyên truyền, giáo dục đạt trên 16.000 lượt người. Bảo tồn thực vật: tiếp nhận 71.239 cây, xây dựng vườn sưu tập gần 5.000 cây/111 loài.

Giai đoạn 1998-2002

Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên gặp nhiều khó khăn do lực lượng mỏng (đến năm 2002 chỉ có 14 cán bộ) trong khi phải quản lý gần 30.000 ha rừng trên địa bàn rộng, địa hình phức tạp. Thiếu trạm kiểm lâm và cán bộ kỹ thuật khiến công tác tuyên truyền, tuần tra, phòng cháy chữa cháy và triển khai dự án còn hạn chế. Vùng đệm chưa được quản lý hiệu quả, chủ yếu dừng ở trồng và bảo vệ rừng.

Hệ thống pháp lý chưa đồng bộ, vi phạm lâm luật vẫn xảy ra; cháy rừng, khai thác và săn bắt trái phép còn phổ biến. Người dân địa phương vẫn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng do đời sống khó khăn, làm gia tăng áp lực lên hệ sinh thái và đa dạng sinh học.

Tuy vậy, sau 8 năm, diện tích rừng và độ che phủ vẫn tăng (từ 59,7% lên 63,3%), góp phần cải thiện công tác bảo tồn. Trước những thách thức về quản lý và bảo tồn, yêu cầu nâng cấp Khu bảo tồn lên mức cao hơn trở nên cấp thiết nhằm tăng hiệu quả quản lý và bảo vệ tài nguyên.

Giai đoạn mới từ 2002-2010

1. Công tác tổ chức

Kiện toàn bộ máy, thành lập Hạt Kiểm lâm (15/11/2002), Ban QLDA 661 (10/5/2005), Trung tâm DLST & GDMT (31/01/2007). Nhân lực tăng từ 25 lên 105 người (2010); thành lập Chi bộ VQG (2006), bảo đảm lãnh đạo toàn diện.

2. Quản lý, bảo vệ và Phát triển rừng, bảo vệ đa dạng sinh học

Năm 2005 hoàn thành 164 mốc ranh giới; giao khoán bảo vệ ~16.000 ha/năm, tăng cường tuần tra, xử lý ~50 vụ vi phạm. Cháy rừng 2009–2010 (718 ha) để lại nhiều bài học; đến 2010 công tác dần ổn định.

3. Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

Đẩy mạnh điều tra đa dạng sinh học, phát hiện loài mới, xây dựng Bảo tàng; nhân giống Đỗ quyên, lan; ghi nhận 304 loài bướm. Mở rộng hợp tác, triển khai dự án lâm nghiệp cộng đồng từ 2006.

4. Du lịch sinh thái trong rừng đặc dụng

Hình thành các tuyến Fansipan, suối Vàng – thác Tình Yêu…; hạ tầng thuận lợi, lượng khách tăng, đóng góp kinh tế. Tuy nhiên còn nguy cơ cháy rừng và hạn chế khai thác văn hóa bền vững.

5. Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật

Năm 2009 phê duyệt Dự án Khu bảo tồn và cứu hộ theo Quyết định 3670/QĐ-UB (06/11/2009), nền tảng hình thành Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật Hoàng Liên.

 

 

 

Diện tích, vị trí, danh giới của VQG Hoàng Liên đến nay

Căn cứ theo Quyết định số 90/2002/QĐ-TTg ngày 12/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Vườn quốc gia Hoàng Liên được giao quản lý diện tích 29.845 ha, nằm trên địa bàn các xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ (huyện Sa Pa) và một phần các xã Mường Khoa, Thân Thuộc (huyện Than Uyên), tỉnh Lào Cai.

Vị trí: 22°09'30”–22°21'00” vĩ Bắc; 103°45'00”–104°59'40” kinh Đông.

Ranh giới: Giáp Sa Pa, Văn Bàn (Lào Cai) và Phong Thổ, Tân Uyên (Lai Châu); sau điều chỉnh 2003–2008, phần Than Uyên chuyển về Lai Châu.

Diện tích: Khoảng 28.5 nghìn ha; phân 3 phân khu (bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi sinh thái, hành chính – dịch vụ).

Quy hoạch: Thực hiện quy hoạch bảo tồn (2013–2020) và quản lý rừng bền vững (2020–2030).

Hiện trạng: Thuộc Sa Pa (Lào Cai) và Tân Uyên (Lai Châu).

Bản đồ diện tích Vườn quốc gia Hoàng liên qua các năm:

Cơ cấu tổ chức bộ máy VQG Hoàng Liên

01

Leo núi fansipan

150 VNĐ/Người lớn

0 VNĐ/Trẻ em

hành trình chinh phục 1 ngày, 2 ngày 1 đêm , 3 ngày 2 đêm.

02

Rừng già sín chải

40.000 VNĐ/Người lớn

0 VNĐ/Trẻ em

03

Thác tình yêu

70.000 VNĐ/Người lớn

30.000 VNĐ/Trẻ em

Lào Cai là một trong những địa danh vùng núi Tây Bắc được tạo hóa ưu ái ban tặng phong cảnh thiên nhiên bao la, hùng vĩ. Ngoài Sapa là điểm du lịch nổi tiếng, thì nơi này vẫn còn nhiều điểm đến hấp dẫn mà những tín đồ mê cái đẹp của thiên nhiên Tây Bắc không nên bỏ qua.

04

Canyoning

1.200.000 VNĐ/Người lớn

0 VNĐ/Trẻ em

Với tour trải nghiệm này bạn sẽ được chinh phục và thưởng ngoạn vẻ đẹp nguyên sơ và không khí trong lành, mát lạnh dễ chịu của những thác nước nổi tiếng nằm dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ. Canyoning tại đây là sự tổng hợp của các hoạt động kỳ thú như nhảy xuống thác nước, nhảy vách đá, trượt nước tự nhiên,đi bộ trong khu rừng nguyên sinh và trekking trên đèo Ô Quy Hồ tuyệt đẹp.

05

Leo núi Nam Kang Ho Tao

0 VNĐ/Người lớn

0 VNĐ/Trẻ em

Nam Kang Ho Tao là cung trekking gian nan bậc nhất Tây Bắc với địa hình phức tạp, nguy hiểm vì phải vượt qua được nhiều vách đá trơn trượt. Nhưng đây là một trong những cung đáng leo nhất Việt Nam. Tuy nhiên bạn cần lượng sức mình để leo hành trình này bởi nó rất gian nan, hơn hẳn những cung khó khác như Bạch Mộc Lương Tử, Putaleng,…

06

Tour trải nghiệm học sinh

0 VNĐ/Người lớn

0 VNĐ/Trẻ em